Blogger Widgets
Headlines

Chiến lược làm bài dạng Yes - No - Not Given

Posted by Unknown | | Posted in

Dạng bài tập Y/N/NG là một trong những dạng bài rất quen thuộc trong các bài tập tiếng Anh và đặc biệt là trong bài thi IELTS.  Hôm nay, mình sẽ chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm và bí quyết mà mình đã tổng hợp được trong cách làm dạng bài tập này.
Chúng ta đều biết, dạng bài tập này sẽ đưa ra cho các bạn một loạt các nhận định (statement) và yêu cầu bạn phải chọn đó là "Yes", "No" hay "Not given".

  • Nhận định là "Yes" khi ý của nó trùng khớp với ý tác giả đưa ra trong bài.
  • Nhận định là "No" khi ý của nó trái ngược với ý bài đã nêu.
  • Nhận định là "Not given" khi thông tin đó không có trong bài văn.
Các bước làm bài:
1. Đọc nhận định.
2. Gạch chân các từ khóa trong câu để định vị đoạn văn liên quan trong bài đọc.
Từ khóa định vị là các từ nổi bật như tên riêng, số, các từ chuyên môn . . .
3. Dùng các từ khóa xác định nghĩa để so sánh với ý trong bài.
Các bạn nên chú ý các từ mang nghĩa sau:
- Các câu có từ mang nghĩa mạnh như always (luôn luôn), never (không bao giờ), only (chỉ một), … thường là đáp án "No".
- Các câu có từ can, may, might… thường là đáp án "Yes".
- Các tính từ, trạng từ miêu tả đi kèm luôn được chú ý dùng để so sánh với nghĩa của bài. Những câu có từ như vậy thương là "Not given".
Sau đây chúng ta sẽ cùng làm một ví dụ nhé:
All our life, so far as it has definite form, is but a mass of habits," William James wrote in 1892. Most of the choices we make each day may feel like the products of well-considered decision making, but they're notThey're habits. And though each habit means relatively little on its own, over time, the meals we order, what we say to our kids each night, whether we save or spend, how often we exercise, and the way we organize our thoughts and work routines have enormous impacts on our health, productivity,financial security, and happiness. One paper published by a Duke University researcher in 2006 found that 40 percent or more of the actions people performed each day weren't actual decisions, but habits.
Do the statements below agree with the ideas expressed by the author? Write YES, NO or NOT GIVEN.
  1. The majority of choices we make on a daily basis are conscious decisions. Đáp án là "No".
Với câu này, bạn có thể xác định từ khóa định vị là "choices" hoặc "decision". Sau đó bạn sẽ đọc cả câu có chứa từ này để so sánh nghĩa. Trong câu nhận định, từ dùng để so sánh nghĩa là "conscious" (rõ ràng, có ý thức).
Câu văn trong bài: "feel like the products of well-considered decision making, but they're not." (những quyết định hằng ngày có vẻ như là những quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng, nhưng không phải như vậy). Và ngay câu tiếp theo đã giải thích "They're habits" (Chúng là thói quen).
  1. Saving money is the key to financial security.
Đáp án Not given.
Từ khóa định vị trong câu là "financial security" (đảm bảo kinh tế). Từ này được coi là từ chuyên môn. Câu nhận định có nghĩa: Tiết kiệm tiền là chìa khóa cho việc đảm bảo kinh tế". Tuy nhiên trong bài đọc, tác giả không hề liệt kê đến việc "saving money" có tác động đến "financial security".
Trong câu này, các bạn thường hiểu rằng tác giả khẳng định cách suy nghĩ và công việc thường ngày có tác động lớn đến việc đảm bảo kinh tế. Vì vậy tiết kiệm tiền không thể là chìa khóa của viêc "financial security".
  1. Habits account for at least 40 percent of the things we do each day.
Đáp án là Yes.
Trong câu này, từ khóa nhận định là "40 percent" (số). So sánh với bài đọc có nêu: that 40 percent or more of the actions people performed each day weren't actual decisions, but habits.
Như vậy, câu nhận định đã diễn đạt lại ý "40 phần trăm hoặc hơn những quyết định của con người hằng ngày không phải là quyết định thực sự (actual decision) mà là thói quen (habits)" trở thành "thói quen chiếm ít nhất 40 phần trăm những việc chúng ta làm hằng ngày".

Bài viết demo

Posted by Unknown | | Posted in


Chiến lược làm bài dạng Yes - No - Not Given

Posted by Unknown | | Posted in , ,

Dạng bài tập Y/N/NG là một trong những dạng bài rất quen thuộc trong các bài tập tiếng Anh và đặc biệt là trong bài thi IELTS.  Hôm nay, mình sẽ chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm và bí quyết mà mình đã tổng hợp được trong cách làm dạng bài tập này.



Chúng ta đều biết, dạng bài tập này sẽ đưa ra cho các bạn một loạt các nhận định (statement) và yêu cầu bạn phải chọn đó là “Yes”, “No” hay “Not given”.

  • Nhận định là “Yes” khi ý của nó trùng khớp với ý tác giả đưa ra trong bài.
  • Nhận định là “No” khi ý của nó trái ngược với ý bài đã nêu.
  • Nhận định là “Not given” khi thông tin đó không có trong bài văn.
Các bước làm bài:
1. Đọc nhận định.
2. Gạch chân các từ khóa trong câu để định vị đoạn văn liên quan trong bài đọc.
Từ khóa định vị là các từ nổi bật như tên riêng, số, các từ chuyên môn . . .
3. Dùng các từ khóa xác định nghĩa để so sánh với ý trong bài.
Các bạn nên chú ý các từ mang nghĩa sau:
- Các câu có từ mang nghĩa mạnh như always (luôn luôn), never (không bao giờ), only (chỉ một), … thường là đáp án “No”.
- Các câu có từ can, may, might… thường là đáp án “Yes”.
- Các tính từ, trạng từ miêu tả đi kèm luôn được chú ý dùng để so sánh với nghĩa của bài. Những câu có từ như vậy thương là “Not given”.
Sau đây chúng ta sẽ cùng làm một ví dụ nhé:
All our life, so far as it has definite form, is but a mass of habits,” William James wrote in 1892. Most of the choices we make each day may feel like the products of well-considered decision making, but they’re notThey’re habits. And though each habit means relatively little on its own, over time, the meals we order, what we say to our kids each night, whether we save or spend, how often we exercise, and the way we organize our thoughts and work routines have enormous impacts on our health, productivity,financial security, and happiness. One paper published by a Duke University researcher in 2006 found that 40 percent or more of the actions people performed each day weren’t actual decisions, but habits.
Do the statements below agree with the ideas expressed by the author? Write YES, NO or NOT GIVEN.
  1. The majority of choices we make on a daily basis are conscious decisions. Đáp án là “No”.
Với câu này, bạn có thể xác định từ khóa định vị là “choices” hoặc “decision”. Sau đó bạn sẽ đọc cả câu có chứa từ này để so sánh nghĩa. Trong câu nhận định, từ dùng để so sánh nghĩa là “conscious” (rõ ràng, có ý thức).
Câu văn trong bài: “feel like the products of well-considered decision making, but they’re not.” (những quyết định hằng ngày có vẻ như là những quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng, nhưng không phải như vậy). Và ngay câu tiếp theo đã giải thích “They’re habits” (Chúng là thói quen).
  1. Saving money is the key to financial security.
Đáp án Not given.
Từ khóa định vị trong câu là “financial security” (đảm bảo kinh tế). Từ này được coi là từ chuyên môn. Câu nhận định có nghĩa: Tiết kiệm tiền là chìa khóa cho việc đảm bảo kinh tế”. Tuy nhiên trong bài đọc, tác giả không hề liệt kê đến việc “saving money” có tác động đến “financial security”.
Trong câu này, các bạn thường hiểu rằng tác giả khẳng định cách suy nghĩ và công việc thường ngày có tác động lớn đến việc đảm bảo kinh tế. Vì vậy tiết kiệm tiền không thể là chìa khóa của viêc “financial security”.
  1. Habits account for at least 40 percent of the things we do each day.
Đáp án là Yes.
Trong câu này, từ khóa nhận định là “40 percent” (số). So sánh với bài đọc có nêu: that 40 percent or more of the actions people performed each day weren’t actual decisions, but habits.
Như vậy, câu nhận định đã diễn đạt lại ý “40 phần trăm hoặc hơn những quyết định của con người hằng ngày không phải là quyết định thực sự (actual decision) mà là thói quen (habits)” trở thành “thói quen chiếm ít nhất 40 phần trăm những việc chúng ta làm hằng ngày”.

Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Kinh Tế – Tài Chính – Thương Mại

Posted by Unknown | | Posted in

- Revenue: thu nhập
Revenue tax: ở nước mình ai kiếm hơn 3 triệu một tháng thì xin mời đóng thuế này
- interest: tiền lãi
Sum at 5% interest: Ai hay ra ngân hàng ngoại thương gửi tiền thì sẽ hiểu
- withdraw: rút tiền ra
To withdraw a sum of money: đi ra quỹ tiết kiệm mà quên câu này thì người ta chắc tưởng mình định đến để cướp nhà băng
- offset: sự bù đáp thiệt hại
He put up his prices to offset the increased cost of materials: Khi nguyên liệu tăng giá thì nhớ làm theo cách này
- treasurer: thủ quỹ
The treasurer misappropriated the company’s funds: Trong vụ xử bọn tham ô thì các quan toà sẽ phải nói như vậy
- turnover: doanh số, doanh thu
The estimated annual turnover of my company is 6 milion $: ước gì mà điều này thành sự thật
- inflation: sự lạm phát
Government is chiefly concerned with controlling inflation: Nhà nước tất nhiên là quan tâm đến vấn đề này rồi
- Surplus: thặng dư
surplus wealth: chủ nghĩa tư bản sống được là nhờ cái này đây
- liability: khoản nợ, trách nhiệm
- depreciation: khấu hao
- Financial policies : chính sách tài chính
- Home/ Foreign maket : thị trường trong nước/ ngoài nước
- Foreign currency : ngoại tệ
- Circulation and distribution of commodity : lưu thông phân phối hàng hoá
- price_ boom : việc giá cả tăng vọt
- hoard/ hoarder : tích trữ/ người tích trữ
- moderate price : giá cả phải chăng
- monetary activities : hoạt động tiền tệ
- speculation/ speculator : đầu cơ/ người đầu cơ
- dumping : bán phá giá
- economic blockade : bao vây kinh tế
- guarantee :bảo hành
- insurance : bảo hiểm
- embargo : cấm vận
- account holder : chủ tài khoản
- conversion : chuyển đổi (tiền, chứng khoán)
- tranfer : chuyển khoản
- agent : đại lý, đại diện
- customs barrier : hàng rào thuế quan
- invoice : hoá đơn
- mode of payment : phuơng thức thanh toán
- financial year : tài khoá
- joint venture : công ty liên doanh
- instalment : phần trả góp mỗi lần cho tổng số tiền
- mortage : cầm cố , thế nợ
- share : cổ phần
- shareholder : người góp cổ phần
- earnest money : tiền đặt cọc
- payment in arrear : trả tiền chậm
- confiscation : tịch thu
- preferential duties : thuế ưu đãi
- National economy : ktế quốc dân
- Economic cooperation : hợp tác ktế
- International economic aid : viện trợ ktế qtế
- Embargo : cấm vận
- Macro-economic : ktế vĩ mô
- Micro-economic : ktế vi mô
- Planned economy : ktế kế hoạch
- Market economy : ktế thị trường
- Unregulated and competitive market : thị trường cạnh tranh không bị điều tiết
- Regulation : sự điều tiết
- The openness of the economy : sự mở cử của nền ktế
- Rate of economic growth : tốc độ tăng trưởng ktế
- Average annual growth : tốc độ tăng trưởng bình wân hàng năm
- Capital accumulation : sự tích luỹ tư bản
- Indicator of economic welfare : chỉ tiêu phúc lợi ktế
- Distribution of income : phân phối thu nhập
- Real national income : thu nhập qdân thực tế
- Per capita income : thu nhập bình quân đầu người
- Gross National Product ( GNP) : Tổng sản phẩm qdân

Một vài thuật ngữ kinh tế bằng tiếng Anh hay dùng

Posted by Unknown | | Posted in ,

Thuật ngữ chuyên ngành kinh tế bằng tiếng Anh là một phần quan trọng trong khối ngành kinh tế. Nhằm giúp cho các bạn có được cái nhìn tổng quan và thuận tiện trong việc học tập cũng như nghiên cứu, chúng tôi đã sưu tập và biên tập được một số thuật ngữ thông dụng hay được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế.
Mở đầu là một số thuật ngữ kinh tế bao gồm tên sử dụng bằng tiếng Anh và nghĩa đã được biên dịch ra tiếng Việt.

Để tránh sự dàn trải cũng như lặp lại và cũng để cho các bạn thuận tiện cho việc học, với mỗi bài viết chúng tôi chỉ đưa ra một số lượng hạn chế các thuật ngữ.
Dưới đây là 15 thuật ngữ phổ biến được dùng trong khối ngành kinh tế.
1Break-even pointĐiểm hòa vốn
2Business entity conceptNguyên tắc doanh nghiệp là một thực thể
3Business purchaseMua lại doanh nghiệp
4Calls in arrearVốn gọi trả sau
5CapitalVốn
6Authorized capitalVốn điều lệ
7Called-up capitalVốn đã gọi
8Capital expenditureChi phí đầu tư
9Invested capitalVốn đầu tư
10Issued capitalVốn phát hành
11Uncalled capitalVốn chưa gọi
12Working capitalVốn lưu động (hoạt động)
13Capital redemption reserveQuỹ dự trữ bồi hoàn vốn cổ phần
14CarriageChi phí vận chuyển
15Carriage inwardsChi phí vận chuyển hàng hóa mua

Chương Trình Hợp Tác Với Đại Học Southern Luzon (SLSU), Philippines

Posted by Unknown | | Posted in

Chuyên ngành đào tạo
- Cử nhân Kế toán
- Cử nhân Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Phương thức tuyển sinh và xét tuyển
Học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học có thể nộp hồ sơ nguyện vọng để xét tuyển vào học chương trình liên kết đào tạo quốc tế với SLSU.
Thời gian đào tạo và bằng cấp
- Sinh viên có thể lựa chọn học 5 năm tại Khoa quốc tế theo khung chương trình của SLSU hoặc học 03-4 năm tại Việt Nam và 01-2 năm tại SLSU;
- Nhận bằng tốt nghiệp Đại học chính quy do Đại học SLSU cấp;
- Chỉ tiêu tuyển sinh: 100 sinh viên.

Học phí
Sinh viên hưởng quyền lợi hỗ trợ về tài chính trong khuôn khổ hợp tác đã ký giữa Đại học Thái Nguyên và trường đối tác, phần học phí còn lại sinh viên phải đóng là: năm thứ nhất là 17.000.000 đ/năm; năm thứ 2 và 3 là 1.000 USD/năm; học phí năm thứ 4 và 5 là 1.350 USD/năm (nếu học ở Khoa quốc tế) hoặc 800 USD/năm (nếu học ở SLSU).
Thông tin tuyển sinh chi tiết xin liên hệ theo đ/c:
Phòng Đào tạo, Khoa học và Quan hệ Quốc tế
Khoa Quốc tế, Đại học Thái Nguyên
Đ/C: Phường Tân Thịnh – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
Tel: 0280.3549188 hoặc 0973312235 (Hotline: 01277179150),
Email: kqt@istn.edu.vn, website: www.is.tnu.edu.vn.

HOT - 4 mẹo hữu ích cho bài viết IELTS Task 2

Posted by Unknown | | Posted in ,

Bài thi IELTS Writing được xem là một trong những phần thi khó ăn điểm nhất. Bài thi viết IELTS giống như một ngọn núi cao vậy, rất khó để leo lên nhưng nếu được chuẩn bị kĩ lưỡng, bạn chắc chắn có thể vượt qua nó và đạt được điểm số mà bạn thực sự mong muốn.
Hãy dành thời gian thực hành kĩ năng viết IELTS để đảm bảo rằng bạn không lặp lại những lỗi nhỏ nhặt. Thực hành nhiều sẽ giúp bạn đi đúng hướng và đạt được điểm số bạn mơ ước.
Có rất nhiều thứ bạn cần phải ghi nhớ như: quản lý thời gian một cách hợp lý, không mắc những lỗi không đáng có, tìm ra ý tưởng hay support cho bài viết, viết đủ số lượng từ quy định, sử dụng vốn từ vựng phong phú và dành thời gian để check lại bài viết của bạn. Nghe thì có vẻ khó thực hiện, nhưng bạn hoàn toàn có thể làm được những điều này nếu bạn làm việc một cách có hệ thống và biết cách kiểm soát những gì bạn đang làm.

Dưới đây là 4 mẹo hữu ích giúp bạn làm tốt bài luận IELTS. 
1. Hãy chắc chắn rằng bạn xác định đúng các từ khóa trong câu hỏi. Hãy đọc kĩ câu hỏi, gạch chân hoặc khoanh tròn những từ keyword. Sau đó xác định xem đề bài viết thuộc dạng nào: dạng đưa ra ý kiến, thảo luận, giải quyết vấn đề hay là sự kết hợp của nhiều dạng khác nhau? Nếu bạn không xác định được điều này thì chắc chắn bạn sẽ bị mất điểm.
2. Dành một chút thời gian để lập dàn ý cho bài viết của bạn. Tôi thường nghe thí sinh nói rằng họ không có thời gian để lập dàn ý cho bài viết của họ nhưng họ đâu biết rằng việc lập dàn ý cho một bài viết là rất quan trọng. Mặc dù tôi là một người bản xứ nhưng tôi vẫn lập outline như bình thường. Việc lập outline cho bài viết sẽ giúp bạn viết nhanh hơn vì khi lập outline bạn đã list ra những ý support cho bài viết của mình và nó sẽ giúp bạn mắc lỗi ít hơn. Lập dàn ý cho bài viết không phải là một sự lãng phí thời gian mà đó là một cách tận dụng tốt thời gian bạn có.
3. Chọn các từ liên kết phù hợp. Việc kết hợp ý tưởng của bạn thành các câu văn phức tạp hơn không chỉ giúp bài viết của bạn mạch lạc hơn mà nó còn giúp bạn dễ dàng đạt được band điểm từ 6 trở lên. Hãy tạo ra một ngân hàng các từ liên kết và chắc chắn rằng bạn biết cách sử dụng chúng trong câu như thế nào và sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Đây là một trong những công cụ quan trọng trong văn phong “academic” mà bạn cần cho bài viết IELTS.
4. Tránh lặp lại. Chắc hẳn bạn đã đọc rất nhiều các bài viết IELTS rồi. Những bài viết mang tính học thuật cao thường sử dụng rất nhiều các từ đồng nghĩa và bài viết của bạn cũng nên học theo điều này. Nếu có thể cố gắng không lặp lại các từ. Đôi khi bạn sẽ phải sử dụng nhiều lần một từ nào đó, như các từ xuất hiện trong câu hỏi chẳng hạn. Nhưng thay vì việc viết lại chúng, bạn có thể biến tấu chúng đi bằng cách thay đổi hình thức từ loại của chúng. Ví dụ bạn có thể chuyển từ danh từ sang tính từ, trạng từ, hay động từ hoặc sử dụng các từ đồng nghĩa. Điều này sẽ rất hữu ích bởi bạn đang chỉ cho người chấm thi thấy rằng bạn có một khối lượng từ vựng phong phú và bạn có thể sử dụng tiếng Anh một cách linh hoạt. Điều này sẽ giúp bạn có được band điểm cao hơn.

White House officials to meet with activist Tom Steyer on climate

Posted by Unknown | | Posted in ,

(Reuters) - White House officials and Treasury Secretary Jack Lew will meet with billionaire environmental activist Tom Steyer on Wednesday to discuss climate change, a White House official said.


The meeting will include former Treasury Secretary Hank Paulson, former Secretary of Housing and Urban Development Henry Cisneros, and Cargill Chief Executive Greg Page, who have worked together on a forthcoming "Risky Business report," which studies the economic consequences of climate change.
That report and President Barack Obama's climate change policies will be the focus of the meeting, the official said.
Steyer is a major opponent of the Keystone XL oil pipeline project. The Obama administration is in the middle of a long process to decide whether to approve or reject the pipeline, which would bring oil from Canada to the Gulf Coast.
Steyer has pledged to spend up to $100 million to make sure climate change is a top issue in the November U.S. elections. His meeting with White House officials illustrates the extent to which the administration wants his support, and the increasing importance Steyer has placed on working with, not against, members of the Democratic Party.
The meeting is part of a White House push on climate change policy. Earlier this month, the Obama administration unveiled new rules limiting carbon dioxide emissions from power plants.
The official said the White House would also host a meeting on Tuesday between administration officials, including senior Obama advisers John Podesta and Valerie Jarrett, and representatives from insurance and re-insurance companies to "discuss the economic consequences of increasingly frequent and severe extreme weather and the insurance industry’s role in helping American communities prepare for extreme weather and other impacts of climate change."

(Reporting by Jeff Mason; Editing by Mohammad Zargham)

IELTS Speaking Topics

Posted by Unknown | | Posted in , ,

Du học sinh Hà Nội - bỏ học về giữ Trường Sa

Posted by Unknown | | Posted in ,

Trong chuyến công tác 10 ngày trên quần đảo Trường Sa, tôi may mắn gặp Nguyễn Quốc Đức. Ở tuổi đôi mươi, lại là con trai một doanh nhân có tiếng ở Hà Nội, nhưng thay vì tiếp tục theo học ở nước ngoài, Đức lại trở về xin đi bộ đội và làm lính đảo Trường Sa Lớn...
Lớn lên từ Học kỳ quân đội
5h sáng ngày 25/4/2014, tàu HQ 561 đưa Đoàn công tác chúng tôi hạ neo cách đảo Trường Sa Lớn chừng nửa cây số.
Sau lễ chào cờ, Thủ trưởng Đoàn công tác duyệt binh, chúng tôi tham gia khai mạc triển lãm “Trường Sa, Hoàng Sa: Bản đồ và những tư liệu, chứng cứ lịch sử”, rồi cắt băng khánh thành điểm bưu điện văn hóa đảo. 11h30, đoàn công tác “ăn trưa - giao lưu” (như cách nói của lính đảo) với cán bộ, chiến sĩ của đảo.
Sau bữa trưa, tôi tha thẩn vào khu nhà ở của các chiến sĩ. Khi tới gần chiếc bàn đá kê ngay dưới gốc bàng trên lối đi ra bờ biển, tôi giật mình khi nghe một giọng Hà Nội nhỏ nhẹ: “Mời chú ngồi xơi nước ạ!”. Nói là ngạc nhiên bởi vì đa phần các chiến sĩ ở đây là người miền Trung.
Biết tôi ở Hà Nội, Đức (tên chàng trai) mừng ra mặt. Khác với đa phần các chiến sĩ trên đảo cháy nắng, rắn rỏi, Đức mảnh mai, thư sinh. Đức nói, nhà ở Hoàng Quốc Việt. Cậu là con thứ hai trong một gia đình có 5 anh chị em. Tôi cũng ở Hoàng Quốc Việt, nên chả lạ gì bố của Đức. Ông là một doanh nhân rất thành đạt. Tuy nhiên, điều làm tôi ngạc nhiên là hầu như cả thời phổ thông trung học từ 2006 đến 2010, Đức học ở New Zealand và Australia, nhưng vì sao Đức không học tiếp mà lại… ra Trường Sa.
Đức rót nước mời tôi. Chờ tôi uống xong tách trà, Đức nhỏ nhẹ: “Một lần cháu nghe bác bạn của bố mẹ cháu nói chuẩn bị cho con sang New Zealand học. Cháu rất thích ra nước ngoài học tập. Thế là bố mẹ lo cho sang New Zealand học”.
Năm 2006, 11 tuổi Đức sang New Zealand. Đức nói, tính Đức tò mò, rất thích khám phá. Vì vậy mỗi năm Đức chuyển một trường, đến một thành phố khác để vừa học vừa khám phá. 7 năm học, 5 năm ở New Zealand, 2 năm ởAustralia đã đủ những trải nghiệm cho cậu học trò 18 tuổi. “Chuyển trường nhiều như vậy, nhưng thành tích học tập của cháu năm nào cũng tốt, nhận giấy khen của trường nữa đấy chú ạ!”, Đức khoe.
Nhấp thêm ngụm trà, tôi trở lại câu chuyện: “Đức ra Trường Sa như thế nào?”. Trầm ngâm một lúc, lấy tay áo gạt mồ hôi lấm tấm trên trán, Đức kể: “Đầu năm 2013, cháu về nước phụ giúp bố cháu công việc kinh doanh. Định bụng là lao ra thương trường một thời gian, có chút kinh nghiệm rồi sẽ đi học tiếp đại học ở nước ngoài. Tuy nhiên một sự kiện đã làm thay đổi tất cả”.
Đức im lặng hồi lâu. Mắt nhìn xa xăm. Chắc Đức đang nghĩ tới một vấn đề gì đấy hệ trọng. “Đầu năm 2013 cùng với bạn bè cháu tham gia một khóa huấn luyện “Học kỳ quân đội” ở Thái Nguyên. Ăn uống, sinh hoạt chế độ như lính và nhất là khi khoác lên mình chiếc áo nhà binh, trong đầu cháu lóe lên một ý nghĩ: “Sao không theo nghiệp nhà binh nhỉ?”. Nghĩ thế, cháu quyết luôn”.
Trở về nhà, Đức trình bày nguyện vọng với gia đình xin cho lên đường nhập ngũ. Bố mẹ thương, không muốn cho đi lính vì sợ con trai vất vả. Đức cố gắng thuyết phục bố mẹ. Rồi Đức nộp đơn lên phường xin nhập ngũ.
Trở thành lính đảo
Tháng 9/2013, Đức lên đường nhập ngũ, tham gia khóa huấn luyện chiến sĩ mới ở Tiểu đoàn 453, Lữ đoàn 957, Vùng 4 Hải quân. “Hôm cháu lên đường nhập ngũ mẹ thương sẽ vất vả nên khóc rất nhiều, mua cho đủ thứ nhét đầy cả một ba lô. Mà mẹ lo là đúng thôi. Ở nhà cháu chả phải làm gì, thậm chí quần áo mặc xong, thay ra, vứt đấy, mẹ giặt”. Cháu động viên mẹ: “Mẹ yên tâm đi, con lớn rồi. Với lại mẹ phải để cho con có môi trường rèn luyện nên người chứ”. Mẹ cười trong nước mắt”.
3 tháng huấn luyện tân binh thực sự là một “cuộc hành xác” đối với Đức. Báo thức, tập thể dục, huấn luyện (lăn lê, bò toài), học chính trị, báo động đêm, hành quân, tăng gia sản xuất, thể thao, văn hóa văn nghệ. Lặp đi lặp lại.
Từ một chàng trai “không biết làm gì” dần dần Đức trở thành anh lính “cái gì cũng làm được”. “Có những lúc cháu kiệt sức, tưởng như mình không qua nổi khóa huấn luyện, nhưng rồi được sự động viên, giúp đỡ của thủ trưởng, đồng đội, cháu đã vượt qua tất cả”, Đức nói, mắt ánh lên niềm tự hào. “Chỉ có ở môi trường quân đội, cháu mới nhận ra được tình cảm bạn bè thực sự. Trong đơn vị, mọi vui buồn đều chia sẻ cho nhau nghe, lúc khó khăn được giúp đỡ, động viên”.
Kết thúc ba tháng huấn luyện tân binh, Đức được gặp gia đình trước khi lên tàu đến với Trường Sa. Một tuần lênh đênh trên con tàu HQ 571 đến với Trường Sa, Đức là người yếu nhất nhưng lại ít bị say sóng nhất. Lần đầu tiên đặt chân đến Trường Sa, nơi mà trước đó chỉ biết qua sách báo, Đức hồi hộp không ngủ được.
"Khi còn học ở nước ngoài, cháu có đọc và biết nhiều về Trường Sa, Hoàng Sa là nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc, đang cần những thanh niên có ý chí và sức vóc canh trời, canh biển. Cháu nung nấu ước mơ được một lần ra với đảo, được đóng góp một phần công sức bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc”.
e

Nguyễn Quốc Đức _ Ở tuổi đôi mươi, lại là con trai một doanh nhân có tiếng ở Hà Nội, nhưng thay vì tiếp tục theo học ở nước ngoài, Đức lại trở về xin đi bộ đội và làm lính đảo Trường Sa Lớn...
“Đi lính thì rõ rồi, nhưng sao Đức lại chọn ra Trường Sa?”, tôi tò mò. Đức nhặt một hòn đá san hô trắng đưa lên bảo tôi: “Chú đưa vào chùa bảo Thầy cho mấy chữ về làm kỷ niệm chú nhé. Cháu thấy ai ra đây cũng làm vậy cả”. Tôi nhận hòn đá và cảm ơn Đức. Đức nói: “Khi còn học ở nước ngoài, cháu có đọc và biết nhiều về Trường Sa, Hoàng Sa là nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc, đang cần những thanh niên có ý chí và sức vóc canh trời, canh biển. Cháu nung nấu ước mơ được một lần ra với đảo, được đóng góp một phần công sức bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc”.
Thú thực, nếu như nghe câu này của một thanh niên bất kỳ nào đó giữa Thủ đô Hà Nội thì tôi có thể nghi ngờ, nhưng trước chàng trai Hà Nội, người mà nếu ở nhà “chả thiếu thứ gì, chả phải làm gì” ấy ở ngay trên hòn đảo thiêng liêng của Tổ quốc, trước một người khách (mà Đức không hề biết tôi là nhà báo) thì tôi tin Đức thực lòng.
Đức bảo cái đêm đầu tiên đi gác trên đảo Đức không thể nào quên được: “Một mình đứng gác từ 2h đến 3h30 sáng, thú thực cháu hơi run. Gió biển lạnh mà trong người cứ nóng ran. Tay bồng súng trước ngực thấy mình lớn hẳn lên, trách nhiệm lớn lao và thiêng liêng lắm. Nhớ đất liền, nhớ nhà, nhớ bố, nhớ mẹ, nhớ bạn bè da diết”.
Rồi Đức kể cho tôi nghe về cái Tết đầu tiên ở Trường Sa: “Tết về, cả đơn vị nhộn nhịp thi làm cỗ, rồi chấm xem cỗ của đội nào đẹp nhất. Cháu và các chiến sĩ mới được giao nhiệm vụ dọn dẹp nhà cửa, tìm những cành cây đẹp để gắn hoa nhựa làm cành đào đón xuân. Cháu còn được tham gia gói bánh chưng. Đây là lần đầu tiên trong đời cháu được gói bánh chưng nhưng cũng gói được 10 cái rất đẹp và vuông vắn nhé”- Đức cười rất tươi.
Cuối buổi chiều, tôi tìm gặp Trung úy Hoàng Anh Tuấn, Phân đội trưởng Phân đội pháo phòng không 37, Chỉ huy trực tiếp của Đức. Khi nhắc tới Đức, anh Tuấn bảo: “Dù sống ở nước ngoài nhiều năm, gia đình lại có điều kiện nhưng Đức không hề có biểu hiện công tử mà rất gần gũi với đồng đội”.
22h, sau khi giao lưu văn nghệ xong Đoàn cán bộ chúng tôi trở lại tàu, Đức ra tận chân cầu cảng tiễn, nắm tay tôi, Đức bảo: “Hồi chiều chú có hỏi về tương lai của cháu. Cháu nói nhé, cháu mong là sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự cháu được đi học sĩ quan và thành anh lính hải quân chuyên nghiệp”.
Tôi nắm chặt tay Đức, chúc mơ ước của Đức sẽ thành hiện thực.
Tôi tin là Đức sẽ trở thành một sĩ quan hải quân mẫu mực.
Trường Sa, Tổ quốc cần lắm những người như Đức!
Theo Vietnamnet - 16:00 22/06/2014

Vietnam boat sinks after collision with Chinese vessel

Posted by Unknown | | Posted in , ,

Tensions are rising in the South China Sea after a Chinese vessel reportedly hit a Vietnamese fishing boat, causing it to sink.


Vietnamese Television, who recently broadcast this footage, said it was filmed near a controversial oil rig last month.

The video shows a larger vessel closely following a smaller fishing boat. Then in another shot, the boat begins to sink.

Both countries blame each other for the incident near the disputed Paracel Islands. Vietnamese media says that Chinese vessels rammed the boat and used water cannons on their coast guards, while Chinese state media argued that the boat collided with its vessel after harassing a Chinese fishing boat.

Whatever the reason, the sinking is likely to escalate tensions between the two countries which are locked in dispute about the South China sea territory.

Difficult words: tension (bad feeling when two countries do not trust each other), vessel (large boat), disputed (argued about), ram (to run into something very hard), harass (attack), escalate (to get worse and worse).

Source: www.itn.co.uk

Man trapped in Germany's deepest cave

Posted by Unknown | | Posted in , , , ,

More than 100 rescuers are attempting to free a man who is trapped in a cave 1,000 metres deep in southern Germany.

The 52 year-old man, who is one of the researchers who discovered the cave, was left with injuries to his head and chest after rocks fell on him on Sunday.

He can’t climb back to the surface by himself, as there are steep shafts and narrow tunnels.

“It’s also dark inside, but there are a lot of winding corridors, there are ravines filled with water and very steep places where abseiling is necessary. There is also a permanent danger of rocks falling which is why the operation is so complicated.”

The man is trapped in one of the most difficult and deepest caves in Europe and it took his friend 12 hours to climb out and call for help.

A specialist Swiss cave rescue team has now reached him, but it could be days before they see the surface.

Difficult words: attempt (try), shaft (passage), winding (twisted), corridor (passage), ravine (deep, narrow gap), abseil (go down a cliff by sliding down a rope), surface (land outside of the cave).

Source: www.itn.co.uk

Thuật ngữ "Marketing Myopia"

Posted by Unknown | | Posted in

Cận thị tiếp thị
Nhiều người bán hàng đã mắc phải sai lầm khi quá chú trọng đến sản phẩm vật chất mà họ đưa ra, hơn là những lợi ích mà các sản phẩm đó tạo ra. Họ tự xem mình là người bán một sản phẩm hơn là một giải pháp cho một nhu cầu.


"Một nhà sản xuất máy khoan tay có thể nghĩ rằng khách hàng cần cái máy khoan tay, thế nhưng những gì khách hàng thực sự cần lại chính là cái lỗ."
Những người buôn bán như vậy có thể đang mắc phải chứng "cận thị tiếp thị". Họ châm bẩm vào sản phẩm của mình đến nỗi chỉ chú trọng đến ước muốn hiện tại mà quên đi những nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng. Và họ sẽ gặp khó khăn ngay nếu có một sản phẩm mới nhập cuộc; đánh trúng vào nhu cầu tiềm ẩn đó.

Yêu thương và ích kỉ...

Posted by Unknown | | Posted in

Em yêu thương anh nhiều đến nỗi ích kỷ với cả thế giới, bởi vì em đã xem, anh là cả thế giới đối với em! Thế thì… anh hãy trả lời em đi, em yêu thương anh hay là em ích kỷ!


Ích kỷ là khi em tức giận vì anh đi chơi về muộn. Yêu thương là khi em lo lắng vì trời đã tối muộn vẫn chưa thấy anh về.

Ích kỷ là khi em nghĩ đến cảm giác khó chịu của mình khi cãi nhau với anh, nó làm em bực bội. Yêu thương là khi em cố nén mình để không tranh cãi dữ dội mỗi khi chúng ta cãi vã… bởi vì em sợ điều đó sẽ khiến cho anh bực bội trong người.

Ích kỷ là khi em thích thú vì món quà anh tặng thật giá trị. Yêu thương là khi đến những ngày lễ, tất cả đều được tặng quà, còn em thì sẽ chỉ ngồi im, tủi thân nhưng không hề dám nói, để rồi nụ cười sáng chói của anh, là món quà giá trị nhất đối với em.

 Ích kỷ là khi em ghen tuông nghĩ về việc anh ở bên người khác. Yêu thương là khi em tan nát nhưng vẫn cảm thấy vui vì anh được an toàn để hạnh phúc với… người khác chẳng phải em.

Ích kỷ là khi em hờn ghen giận dỗi, trách anh vì sao chỉ ham chơi nông nổi, chẳng nghĩ tới em khi em ốm, em ho. Yêu thương là khi em cực kỳ lo, chỉ biết khóc mỗi khi trời trở gió thấy anh ho… em xót… Cho dù ngay lúc đó có khi em còn sốt hơn anh.

Ích kỷ là khi em phải thắng trong mọi cuộc tranh cãi. Yêu thương là khi em chấp nhận sai trong mọi cuộc tranh cãi… vì anh.

 Ích kỷ là khi em leo lên giường ngủ khì khì… trong khi anh đang đi bộ lang thang trong trời lạnh giá. Yêu thương là khi em thức trắng đêm để chờ anh… ngủ say, để biết anh đã ấm áp bình yên và ngủ ngon trong giấc mơ tròn đầy.

Ích kỷ là khi em vòi vĩnh anh phải về ngay khi em nhớ anh nhiều lắm. Yêu thương là khi em nhớ anh nhiều lắm nhưng vẫn cấm anh không được về chỉ để được gần nhau.

Ích kỷ là khi em nheo nhéo khóc mỗi khi chớm đau, lăn lộn kêu để làm anh lo lắng. Yêu thương là khi em nén cơn đau vào lòng, ngậm tiếng ho vào trong và nuốt những nhức nhối cho riêng mình em biết, để anh yên tâm ở nơi ấy xa em.

Ích kỷ là khi em buông xuôi khi chán nản, mệt mỏi với hờn ghen. Yêu thương là khi em đương đầu với chúng… vì anh.

Yêu thương và ích kỉ... 1

 Ích kỷ là khi em cứ làm như là em hiểu anh. Yêu thương là khi em biết em… còn rất nhiều điều chưa biết hết về anh… vì sự tuyệt vời của anh… là một đường chân trời xa vời lắm .
Ích kỷ là khi em tức giận vì anh đi chơi về muộn. Yêu thương là khi em lo lắng vì trời đã tối muộn vẫn chưa thấy anh về.

Ích kỷ là khi em nghĩ đến cảm giác khó chịu của mình khi cãi nhau với anh, nó làm em bực bội. Yêu thương là khi em cố nén mình để không tranh cãi dữ dội mỗi khi chúng ta cãi vã… bởi vì em sợ điều đó sẽ khiến cho anh bực bội trong người.

 Ích kỷ là khi em thích thú vì món quà anh tặng thật giá trị. Yêu thương là khi đến những ngày lễ, tất cả đều được tặng quà, còn em thì sẽ chỉ ngồi im, tủi thân nhưng không hề dám nói, để rồi nụ cười sáng chói của anh, là món quà giá trị nhất đối với em.

 Ích kỷ là khi em ghen tuông nghĩ về việc anh ở bên người khác. Yêu thương là khi em tan nát nhưng vẫn cảm thấy vui vì anh được an toàn để hạnh phúc với… người khác chẳng phải em.

Ích kỷ là khi em hờn ghen giận dỗi, trách anh vì sao chỉ ham chơi nông nổi, chẳng nghĩ tới em khi em ốm, em ho. Yêu thương là khi em cực kỳ lo, chỉ biết khóc mỗi khi trời trở gió thấy anh ho… em xót… Cho dù ngay lúc đó có khi em còn sốt hơn anh.

Ích kỷ là khi em phải thắng trong mọi cuộc tranh cãi. Yêu thương là khi em chấp nhận sai trong mọi cuộc tranh cãi… vì anh.

Yêu thương và ích kỉ... 2


 Ích kỷ là khi em leo lên giường ngủ khì khì… trong khi anh đang đi bộ lang thang trong trời lạnh giá. Yêu thương là khi em thức trắng đêm để chờ anh… ngủ say, để biết anh đã ấm áp bình yên và ngủ ngon trong giấc mơ tròn đầy.

Ích kỷ là khi em vòi vĩnh anh phải về ngay khi em nhớ anh nhiều lắm. Yêu thương là khi em nhớ anh nhiều lắm nhưng vẫn cấm anh không được về chỉ để được gần nhau.

Ích kỷ là khi em nheo nhéo khóc mỗi khi chớm đau, lăn lộn kêu để làm anh lo lắng. Yêu thương là khi em nén cơn đau vào lòng, ngậm tiếng ho vào trong và nuốt những nhức nhối cho riêng mình em biết, để anh yên tâm ở nơi ấy xa em.

Ích kỷ là khi em buông xuôi khi chán nản, mệt mỏi với hờn ghen. Yêu thương là khi em đương đầu với chúng… vì anh

 Ích kỷ là khi em cứ làm như là em hiểu anh. Yêu thương là khi em biết em… còn rất nhiều điều chưa biết hết về anh… vì sự tuyệt vời của anh… là một đường chân trời xa vời lắm .

Thế theo anh thì, em đang yêu thương anh hay là em đang ích kỷ?

Thế theo anh thì, em đang ích kỷ hay là em đang rất yêu anh?

Nếu anh ở xa mà đói, em ở nhà có đói, em cũng chẳng ăn… vì việc lo lắng cho anh… đã làm em no căng và… đầy bụng.

Em yêu thương anh nhiều đến mức, có thể cảm nhận được sự thay đổi trong suy nghĩ anh chỉ qua hơi thở trong điện thoại, qua sự lên xuống thăng trầm của từng từ mà anh phát âm.

Yêu thương và ích kỉ... 3

Ích kỷ là khi em nấu ăn để được anh khen ngon rồi tự cười sung sướng. Yêu thương là khi em chăm chỉ nấu cho bằng được món anh thích ăn.
Ích kỷ là khi em phải nói câu: “em tha thứ cho lỗi lầm mà anh có!”. Yêu thương là khi với em, anh chẳng bao giờ có lỗi lầm!
Ích kỷ là khi có kẻ muốn chen vào giữa chúng ta, em hằn học xem nó như là ác quỷ. Yêu thương là khi em sẽ trở thành ác quỷ vặn cổ con nhỏ thiên thần dám dấn thân vào giữa chúng ta anh ạ.

 Ích kỷ là khi em rên rỉ. Yêu thương là khi em lẳng lặng chẳng nói gì… chỉ làm tất cả vì anh, như em vẫn thường vốn dĩ!

Và Ích kỷ là khi em nói em không ích kỷ. Yêu thương là khi em xin lỗi anh vì em đã ích kỷ quá nhiều để yêu anh như thể thiếu anh, em sẽ chết!

Em yêu anh đủ nhiều… để ích kỷ không cho ai yêu chung anh với em cả.  

Và… em yêu thương anh nhiều đến nỗi ích kỷ với cả thế giới, bởi vì em đã xem, anh là cả thế giới đối với em!

Thế thì… anh hãy trả lời em đi, em yêu thương anh hay là em ích kỷ!

Thế theo anh thì, em đang yêu thương anh hay là em đang ích kỷ?

Thế theo anh thì, em đang ích kỷ hay là em đang rất yêu anh?

Nếu anh ở xa mà đói, em ở nhà có đói, em cũng chẳng ăn… vì việc lo lắng cho anh… đã làm em no căng và… đầy bụng.

Em yêu thương anh nhiều đến mức, có thể cảm nhận được sự thay đổi trong suy nghĩ anh chỉ qua hơi thở trong điện thoại, qua sự lên xuống thăng trầm của từng từ mà anh phát âm.

Ích kỷ là khi em nấu ăn để được anh khen ngon rồi tự cười sung sướng. Yêu thương là khi em chăm chỉ nấu cho bằng được món anh thích ăn.

 Ích kỷ là khi em phải nói câu: “em tha thứ cho lỗi lầm mà anh có!”. Yêu thương là khi với em, anh chẳng bao giờ có lỗi lầm!

 Ích kỷ là khi em rên rỉ. Yêu thương là khi em lẳng lặng chẳng nói gì… chỉ làm tất cả vì anh, như em vẫn thường vốn dĩ!

Và Ích kỷ là khi em nói em không ích kỷ. Yêu thương là khi em xin lỗi anh vì em đã ích kỷ quá nhiều để yêu anh như thể thiếu anh, em sẽ chết!

Em yêu anh đủ nhiều… để ích kỷ không cho ai yêu chung anh với em cả.  

Và… em yêu thương anh nhiều đến nỗi ích kỷ với cả thế giới, bởi vì em đã xem, anh là cả thế giới đối với em!

Thế thì… anh hãy trả lời em đi, em yêu thương anh hay là em ích kỷ!

    Blog Archive